Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 19 tháng 8, 2017

Mặt trăng Vatican

Mặt trăng Vatican

18 tháng Tám, 2017
Mặt trăng Vatican
Alberto Pizzoli | AFP

Ảnh đẹp trong ngày: 18 tháng Tám, 2017

Mặt trăng nằm sau thánh giá trên đỉnh Vương cung Thánh Đường Thánh Phê-rô khi Đức Thánh Cha Phanxico đang giảng huấn từ cửa sổ điện tông truyền trước đám đông người, nhìn thẳng qua Quảng trường Thánh Phê-rô tại Vatican ngày 15 tháng Tám, 2017, trong giờ đọc Kinh Truyền tin.
Ảnh của Alberto Pizzoli cho AFP
[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 19/08/2017]


Hàng ngàn người Venezuela đi bộ sang Colombia mỗi ngày để dùng bữa ăn miễn phí

Hàng ngàn người Venezuela đi bộ sang Colombia mỗi ngày để dùng bữa ăn miễn phí

15 tháng Tám, 2017
Hàng ngàn người Venezuela đi bộ sang Colombia mỗi ngày để dùng bữa ăn miễn phí
Luis Acosta | AFP

Khi nền kinh tế đang trên bờ vực sụp đổ, những người Venezuela bị đói vượt biên giới

Theo tường thuật của Associated Press, khi nền kinh tế của Venezuela đang trên bờ vực sụp đổ, vào khoảng 25.000 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em vượt biên giới đi vào Colombia mỗi ngày để tìm thức ăn.
“Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi phải nói ra điều này,” Erick Oropeza nói, 29 tuổi, là một cựu nhân viên của Bộ Giáo dục của Venezuela, anh phải đi bộ qua một cây cầu để được cung cấp một đĩa thức ăn miễn phí mỗi sáng. “Rằng tôi tri ân những gì nước Colombia làm cho tôi trong khoảng thời gian ngắn này hơn là những gì tôi đã đón nhận từ Venezuela trong suốt đời tôi.”
Mỗi ngày các nhà thờ và tổ chức phi lợi nhuận ở Colombia chuẩn bị cung cấp bữa ăn trưa cho người Venezuela bị đói vượt biên giới chỉ để tìm được bữa ăn duy nhất trong ngày cho họ.
Khi chính phủ chuyên quyền của Tổng thống Nicolás Maduro thẳng tay đàn áp những người phản đối, nền kinh tế của Venezuela tiếp tục lao xuống dốc. Trong tuần vừa qua cuộc khủng hoảng nổi lên mạnh hơn, giá trị đồng tiền trồi sụt chóng mặt, và giá lương thực tăng gấp đôi, theo tường thuật của Washington Post. Một cuộc khảo sát gần đây cho thấy 75 phần trăm người dân Venezuela trong năm quan bị sụt 19 pounds (khoảng 8,6 kg).
Cha Jose David Canas, một linh mục thuộc nhóm “Casa de Paso,” tổ chức cung cấp chỗ ở do nhà thờ điều hành trong thị trấn Cucuta biên giới Colombia, nói với AP cha sẽ tiếp tục phục vụ bữa ăn “cho đến khi nào Chúa vẫn còn cho phép.”
“Cho đến khi họ đóng cửa biên giới,” cha nói. “Cho đến khi chẳng còn gì để ăn hoặc cho đến khi tỉnh nói với chúng tôi rằng họ không còn đủ khả năng để cung cấp bữa ăn trưa nữa. Và đó là dấu chấm hết.”

[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 16/08/2017]


Một số người Bắc Hàn chọn Đức Ki-tô chứ không chọn Kim, cho dù bị bắt bớ

Một số người Bắc Hàn chọn Đức Ki-tô chứ không chọn Kim, cho dù bị bắt bớ

17 tháng Tám, 2017
Một số người Bắc Hàn chọn Đức Ki-tô chứ không chọn Kim, cho dù bị bắt bớ

Ki-tô giáo âm thầm vượt qua những vết nứt, một người đào ngũ nói

Ki-tô giáo đang phát triển ở Bắc Hàn, cho dù sự phát triển đó trong âm thầm, trong một xã hội nơi bất kỳ sự thờ phụng thánh thần nào ngoài gia đình lãnh đạo Kim đều có thể dẫn đến bản án tử.
Đó là ý kiến của một người đào ngũ từ Bắc Hàn hiện đang ở với một tổ chức đặt trụ sở tại Seoul có tên gọi là Liên Minh Thế Giới Ngăn Chặn Diệt Chủng ở Bắc Hàn.
“Việc hành quyết người vì lý do tôn giáo được chính thức chấp thuận vẫn còn tồn tại, và tôi có thể nói rằng nó thậm chí còn mạnh hơn trước đây,” người đào ngũ nói với The Telegraph.
Nhưng những thay đổi rất nhỏ đang dần trở nên rõ nét, người đào ngũ nói, người này từ chối tiết lộ tên vì ông đang tích cực hỗ trợ các nhà thờ dưới lòng đất đang hoạt động ở Miền Bắc.
“Trước đây, người dân bị bắt phải tôn thờ gia đình Kim như là vị thần của họ, nhưng nhiều người Bắc Hàn không còn tôn trọng Kim Jong-un nữa,” ông ta nói. “Điều đó có nghĩa là họ đang tìm kiếm một điều khác để giữ niềm tin của họ.”
Ông nói, “Ở một số nơi, việc đó làm nổi lên các pháp sư, nhưng Giáo hội Ki-tô giáo cũng đang phát triển và cắm rễ sâu ở đó.”
“Dù người ta biết họ có thể bị bỏ tù, hay xấu hơn nữa, nhưng họ chọn cách tiếp tục tôn thờ, và như vậy có nghĩa là đang có thêm những vết rạn nứt xuất hiện trong chính thể và hệ thống,” ông nói thêm.
Buổi phỏng vấn được thực hiện trước thời điểm Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế 2016 của Bộ ngoại giao Hoa kỳ, cho hay chế độ cai trị của Bình nhưỡng tiếp tục bách hại bất kỳ ai thực hành tôn giáo trong phạm vi các đường biên giới của họ.
Bộ Ngoại giao phát hành báo cáo thường niên hôm thứ Ba. Cho dù hiến pháp của Bắc Hàn bảo đảm tự do tôn giáo, “báo cáo năm 2014 của Ủy ban LHQ về Điều tra Tình hình Nhân quyền của Bắc Triều Tiên kết luận rằng gần như chính quyền có thái độ từ chối hoàn toàn đối với quyền tự do suy nghĩ, tự do lương tâm, và tự do tôn giáo, và trong nhiều trường hợp, có những vi phạm về nhân quyền từ phía chính quyền tiếp tay cho những tội ác chống lại nhân loại,” bản báo cáo trình bày.
“Chính quyền tiếp tục có thái độ hà khắc với những người tham gia vào việc thực hành bất kỳ tôn giáo nào bằng những cuộc bắt bớ, tra tấn, đánh đập và bắt giữ,” Bộ Ngoại giao nói. Những người bị cầm tù vì lý do tôn giáo với con số ước tính 80.000 so với 120.000 tù nhân chính trị, những người được tin rằng đang bị nhốt trong hệ thống trại tù chính trị “trong các vùng xa xôi dưới những điều kiện kinh hoàng,” bản báo cáo cho biết.

[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 19/08/2017]


5 kiểu thánh giá khác nhau và ý nghĩa của những thánh giá đó

5 kiểu thánh giá khác nhau và ý nghĩa của những thánh giá đó

18 tháng Tám, 2017
5 kiểu thánh giá khác nhau và ý nghĩa của những thánh giá đó

Không phải tất cả các thánh giá đều giống nhau, và mỗi thánh giá có ý nghĩa biểu trưng riêng.

Trong suốt chiều dài lịch sử của Giáo hội, người Ki-tô hữu có cách trình bày thánh giá theo nhiều hình thức khác nhau. Trong mỗi trường hợp thánh giá có hình thức hơi khác và được dùng để biểu trưng cho những chân lý tâm linh.
Dưới đây là năm kiểu thánh giá đã được người Ki-tô hữu trên toàn thế giới sử dụng trong nhiều thế kỷ qua.
Thánh giá giáo hoàng
5 kiểu thánh giá khác nhau và ý nghĩa của những thánh giá đó
Thánh giá này chính thức được dùng làm huy hiệu khi trình bày triều đại của giáo hoàng. Thánh giá ba tầng gợi nhớ đến vương miện giáo hoàng mà các đức thánh cha trước đây đội để chỉ về ba tước hiệu của Đức Ki-tô là tư tế, ngôn sứ và vương đế.
Thánh giá Celtic
5 kiểu thánh giá khác nhau và ý nghĩa của những thánh giá đó
Rất phổ biến ở Ireland, Thánh giá Celtic mô tả một thập giá tiêu biểu của Ki-tô giáo nằm trước một vòng tròn. Nguồn gốc chính xác của thánh giá vẫn còn là bí ẩn, nhiều người liên kết thánh giá này với Thánh Patrick và khẳng định rằng ngài đã giới thiệu thánh giá đó như là một cách để hoán cải người ngoại giáo. Thánh giá đặt trước mặt trời, mà người ngoại giáo tôn thờ, cho thấy quyền tối thượng của Đức Ki-tô vượt trên thế giới tự nhiên. Và còn nữa, nó miêu tả Đức Ki-tô là nguồn của ánh sáng và sự sống. Có khi thánh giá này được gọi là Thánh giá Mặt trời.
Thánh giá của Thánh An-rê
5 kiểu thánh giá khác nhau và ý nghĩa của những thánh giá đó
Một thánh giá thường được dùng trên quốc kỳ của các nước, về nguồn gốc thánh giá được dùng làm biểu tượng cho loại thập giá mà Thánh An-rê Tông đồ đã bị đóng đinh trên đó. Một câu chuyện kể rằng Thánh An-rê đòi được đóng đinh trên kiểu thập giá như vầy (còn được gọi là “thập giá quý tộc”), vì ngài cảm thấy không xứng đáng được đóng đinh giống như cách của Đức Ki-tô.
Thánh giá của Thánh Phê-rô
5 kiểu thánh giá khác nhau và ý nghĩa của những thánh giá đó
Về nguồn gốc cũng tương tự như Thánh giá của Thánh An-rê, Thánh giá của Thánh Phê-rô dựa trên nền tảng câu chuyện bị đóng đinh của Thánh Phê-rô. Phê-rô cảm thấy không xứng đáng được đóng đinh theo cách của Đấng Cứu Thế và yêu cầu được đóng đinh ngược. Do vậy thánh giá này thường được dùng để tượng trưng cho lòng khiêm nhường. Thánh giá cũng đôi khi được dùng để nói về giáo hoàng, người kế vị Thánh Phê-rô.
Thánh giá Byzantine/Chính thống giáo
5 kiểu thánh giá khác nhau và ý nghĩa của những thánh giá đó
Một cách miêu tả đầu tiên về việc bị đóng đinh, Thánh giá Byzantine được chấp nhận bởi Ki-tô hữu Byzantine/Chính thống giáo và tiếp tục được sử dụng trong nhà thờ của họ cho đến ngày nay. Tầng trên cùng của thánh giá tượng trưng cho tấm bảng được Phi-la-tô đóng trên đầu thập giá (bảng viết Giê-su Na-za-rét, Vua dân Do thái). Tầng thứ hai tượng trưng cho thanh ngang mà tay Chúa Giê-su bị đóng vào. Tầng thứ ba tượng trưng cho thanh đỡ chân có thể đã được dùng để đỡ chân của Chúa Giê-su. Nó nằm theo góc nghiêng về một phía cho biết kẻ trộm lành bị đóng đinh về bên phải của Chúa Giê-su được đón về thiên đàng. Phụng vụ của Chính thống giáo nói đến tính biểu tượng này vào các ngày thứ Sáu.

[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 19/08/2017]


Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

Phép lạ đã cứu một linh mục thoát khỏi lưỡi dao của một chiến binh jihad

Phép lạ đã cứu một linh mục thoát khỏi lưỡi dao của một chiến binh jihad

15 tháng Tám, 2017
Phép lạ đã cứu một linh mục thoát khỏi lưỡi dao của một chiến binh jihad
Abuna Nirwan

Một trải nghiệm kinh hoàng của Cha Dòng Phan-sinh Abuna Nirwan ở Iraq

Cha Abuna Nirwan là một linh mục dòng Phan-sinh, xuất thân từ Iraq, cha đã học ngành y khoa trước khi thụ phong linh mục.
Năm 2004, khi đang sống ở Đất Thánh, các Nữ tu dòng Phan-sinh Mân Côi, được thành lập bởi Nữ tu Maria Alphonsine Danil Ghattas (một phụ nữ người Palestine được tôn lên bậc chân phước năm 2009 và được phong hiển thánh năm 2015), tặng cho cha một thánh tích của đấng sáng lập dòng và cỗ tràng hạt mà thánh nữ đã sử dụng. Cha Nirwan luôn mang những báu vật đó bên mình.
Năm 2013, khi Đức Thánh Cha Benedict XVI yêu cầu điều tra một phép lạ cho việc phong hiển thánh của nữ tu Maria Alphonsine, theo thông lệ Tòa Thánh ra lệnh xác của nữ tu phải được cải lại. Như thường lệ, trách nhiệm của giám mục địa phương chỉ định một bác sĩ chịu trách nhiệm tiến trình này. Cha Abuna Nirwan được yêu cầu thực hiện việc khai quật và chuẩn bị báo cáo y khoa phù hợp.
Hai năm trước lễ phong thánh của thánh nữ, một điều hết sức khác thường đã xảy ra qua sự can thiệp của thánh nữ — cộng với phép lại được công nhận — theo lời kể của Cha Santiago Quemada trên blog của cha, Một Linh Mục Ở Đất Thánh:
“Câu chuyện chúng tôi sắp kể xảy ra ngày 14 tháng Bảy năm 2007. Cha Abuna Nirwan về thăm gia đình ở Iraq. Cha đi trên xe taxi thuê tại biên giới Syria. Cha kể câu chuyện của cha trong bài giảng của Thánh lễ cha dâng ở Bet Yalla”:
Lúc đó không thể đi bằng máy bay để thăm gia đình tôi. Điều đó bị cấm. Phương tiện giao thông duy nhất là một chiếc xe hơi. Dự định của tôi là đến Baghdad, và từ đó đi đến Mosul, nơi cha mẹ tôi đang sống.
Người tài xế rất sợ, vì tình hình ở Iraq trong thời gian đó. Một gia đình — một người bố, một người mẹ, và một bé gái 2 tuổi — hỏi xin liệu họ có thể cùng đi với chúng tôi. Người tài xế taxi nói rằng họ đã xin trước, và chẳng có gì phải từ chối. Họ là người Hồi giáo. Người tài xế là một người Công giáo. Ông ta nói với họ rằng xe vẫn còn chỗ trống, và họ có thể cùng đi với chúng tôi. Chúng tôi dừng lại ở một trạm đổ xăng, và một người thanh niên Hồi giáo xin cùng đi đến Mosul. Vẫn còn chỗ trống, nên chúng tôi nhận lời anh ta.
Mãi đến khi mặt trời lên thì biên giới giữa Jordan và Iraq mới được mở. Khi mặt trời lên, rào chắn được mở ra, và khoảng 50 hay 60 xe bắt đầu nối đuôi nhau thành hàng, tất cả đều chạy chậm chậm.
Chúng tôi dứt khoát tiếp tục chuyến đi. Sau hơn một giờ trong xe, chúng tôi đến một điểm có trạm kiểm soát. Chúng tôi chuẩn bị hộ chiếu. Chúng tôi dừng lại. Người lái xe nói, “Tôi rất sợ nhóm này.” Trước đây, nó là một trạm kiểm soát quân sự, nhưng các thành viên của một tổ chức khủng bố Hồi giáo đã giết các lính gác và chiếm địa điểm.
Khi chúng tôi đến, họ đòi xem hộ chiếu của chúng tôi, và họ bắt chúng tôi xuống xe. Họ đem hộ chiếu vào văn phòng. Một người trở lại, đến chỗ tôi và nói, “Này ông cha, chúng tôi sẽ tiếp tục điều tra. Ông phải đến văn phòng phía đàng kia. Xa ở phía sau là sa mạc.” “Được thôi,” tôi trả lời, “nếu phải đi thì chúng tôi đi.” Chúng tôi đi bộ khoảng 15 phút thì đến một cái lều họ chỉ cho chúng tôi.
Khi chúng tôi đến, hai người đàn ông bước ra mang khăn che mặt. Một người tay cầm một máy ảnh và tay kia cầm một con dao. Người kia có râu, và cầm theo kinh Koran. Họ bước đến chỗ chúng tôi, và một người hỏi tôi, “Này ông cha, ông từ đâu đến?” Tôi nói với họ tôi từ Jordan tới. Rồi họ hỏi người lái xe.
Tiếp theo đến lượt người thanh niên đi cùng chúng tôi; người đàn ông túm lấy cậu ta và khóa tay cậu ra phía sau, và giết cậu thanh niên bằng con dao. Họ trói tay tôi ra phía sau. Rồi, một tên nói, “Ông cha, bọn tao phải ghi hình việc này lại cho Al Jazeera. Ông có muốn nói vài lời không? Không được quá một phút.” Tôi nói, “Không, tôi chỉ muốn cầu nguyện.” Chúng cho tôi một phút để cầu nguyện.
Sau đó, hắn đạp vào đầu gối chân của tôi cho đến khi tôi khuỵu chân quỳ xuống, rồi hắn nói, “Ông là một linh mục, và có một điều cấm là máu của ông không được rơi trên đất, vì nó là sự bất kính.” Thế là hắn quay đi tìm một cái xô, và quay trở lại xách theo một cái, để cắt cổ tôi.
Lúc đó tôi chẳng biết mình cầu nguyện điều gì nữa. Tôi quá sợ hãi, và tôi nói với Marie Alphonsine, “Đúng là tình cờ mà tôi lại mang anh đi với tôi. Nếu Chúa thấy cần cất tôi đi khi tôi còn trẻ, tôi sẵn sàng, còn nếu không, con xin Người đừng để ai khác phải chết.”
Hắn dùng tay túm lấy đầu tôi, giữ chặt hai vai tôi, và kề lưỡi dao vào cổ. Có vài giây im lặng trôi qua, rồi bất chợt hắn hỏi, “Ông là ai?” Tôi trả lời, “Một linh mục.” Và hắn nói, “Và tại sao tôi lại không bỏ con dao xuống? Ông là ai?” Và rồi, không đợi tôi trải lời, hắn nói, “Này ông cha, ông và những người khác — quay trở về xe đi.” Chúng tôi liền quay trở lại chỗ chiếc xe.
Ngay từ giây phút đó, tôi không còn cảm giác sợ chết. Tôi biết rằng một ngày nào đó tôi phải chết, nhưng bây giờ tôi hiểu rõ hơn rằng chuyện đó sẽ đến chỉ khi nào Thiên Chúa muốn. Từ đó, tôi chẳng còn cảm giác sợ hãi điều gì nữa. Bất cứ điều gì xảy ra cho tôi đều là vì thánh ý của Thiên Chúa, và Người sẽ cho tôi đủ sức mạnh để mang Thánh giá của Người. Điều quan trọng là có đức tin. Thiên Chúa luôn chăm lo cho những ai tin tưởng nơi Người.
Bài viết ban đầu được đăng trên Religión en Libertad, và được dịch và biên tập trên Aleteia phiên bản tiếng Tây Ban nha. ’s Spanish edition.

[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 16/08/2017]



Tại sao các nhà thờ đặt Đức Mẹ ở bên trái và Thánh Giu-se ở bên phải?

Tại sao các nhà thờ đặt Đức Mẹ ở bên trái và Thánh Giu-se ở bên phải?

16 tháng Tám, 2017
Tại sao các nhà thờ đặt Đức Mẹ ở bên trái và Thánh Giu-se ở bên phải?

Nhiều nhà thờ ở Mỹ có cách sắp xếp các bức tượng như vậy. Tại sao?

Khi bước vào một nhà thờ Công giáo ở Mỹ (và những nơi khác trên thế giới), chúng ta thường thấy một tượng Mẹ Maria Đồng Trinh ở bên trái của bàn thờ và một tượng Thánh Giu-se ở bên phải.
Có lẽ bạn chưa bao giờ chú ý đến điều này, nhưng bây giờ điều này được giải thích rõ, bạn sẽ nhìn thấy ở khắp nơi.
Việc sắp xếp như vầy không phải là ngẫu nhiên.
Sự thật là không có những quy tắc hoặc những quy định đặc biệt liên quan đến việc bố trí đặt các tượng. Trước đây có một truyền thống đặt tượng thánh bổn mạng của giáo xứ ở giữa nhà thờ, phía trên nhà tạm, nhưng gần đây truyền thống đó đã bớt dần và thay vào đó là tượng Chuộc tội ở trung tâm.
Về vị trí đặt tượng Mẹ Maria, Mẹ đứng ở bên trái vì khi được đặt ở đó, Mẹ đứng ở phía tay phải của Chúa Giê-su theo “góc độ quan sát của Ngài” — từ góc độ quan sát của một người đứng nhìn ra từ gian cung thánh.
Điều này phù hợp với truyền thống của người Do thái là Mẫu Hậu luôn ngồi bên tay phải của Vua. Điều này được kể trong sách Các Vua 1, “Bà Bát Se-va vào yết kiến vua Sa-lô-môn để thưa chuyện với vua giúp A-đô-ni-gia-hu. Vua đứng lên, ra đón và sấp mình chào bà; đoạn vua ngồi trên ngai, đồng thời cũng truyền đặt một ngai cho bà thái hậu, bà ngồi bên hữu vua” (1 V 2:19).
Đức Giáo hoàng Pi-ô X xác quyết về truyền thống này trong thông điệp Ad Diem Illum Laetissimum lời lời tuyên bố rằng “Mẹ Maria ngự bên hữu Con của Mẹ.”
Một giải thích khác cho biết rằng vì mé trái của nhà thờ được xem là “Hướng của Tin mừng” của nhà thờ và Mẹ Maria theo Kinh thánh được xem là “E-va mới,” với vai trò chính của Mẹ trong Lịch sử Cứu độ.
Trong các nhà thờ Đông phương một ảnh Mẹ Thiên Chúa cũng được đặt ở mé trái của thánh tượng môn phân chia gian cung thánh và phần lòng nhà thờ. Một bài bình luận giải thích lý do tại sao, “Mẹ Thiên Chúa ẵm Chúa Hài đồng Giê-su, và tượng trưng cho khởi đầu của ơn Cứu độ.”
Sự hiện diện của Thánh Giu-se ở bên phải được dựa trên quan điểm về vai trò vinh dự của Mẹ Maria. (Cũng có trường hợp đặt một vị thánh khác ở đó thay vì Thánh Giu-se.)
Tuy nhiên, nếu một ảnh Thánh Tâm được đặt “bên cạnh Mẹ Maria” thì tượng Mẹ được đặt “bên cạnh Thánh Giu-se,” vì vị trí của Mẹ ít nổi bật hơn của Con của Mẹ.
Một một thời kỳ trong Giáo hội có truyền thống phân chia giới tính, đưa phụ nữ và trẻ em về một bên và nam giới ở phía bên kia của nhà thờ. Điều này lý giải tại sao một số nhà thờ đặt tượng ảnh tất cả thánh nữ ở một bên và tất cả thánh nam ở bên kia.
Vì vậy không có quy tắc nghiêm ngặt và chắc chắn, việc bố trí theo truyền thống trái-phải được phát triển theo thời gian dựa trên văn bản kinh thánh và truyền thống văn hóa khác nhau.

[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 17/08/2017]


Caritas Việt nam giúp các nạn nhân lũ lụt

Caritas Việt nam giúp các nạn nhân lũ lụt

Caritas Việt nam giúp các nạn nhân lũ lụt
Caritas Việt nam - RV
17/08/2017 14:37
Một nhóm sáu thành viên của Carias Việt nam đến thăm các nạn nhân ở huyện Mù Cang Chải thuộc tỉnh Yên Bái ngày 17 tháng Tám, để cung cấp cứu trợ khẩn cấp cho các nạn nhân lũ lụt.
Đức Giám mục Giu-se Nguyễn Văn Yến, phó chủ tịch Caritas Việt nam, dẫn đầu đoàn sáu thành viên đến các tỉnh vùng tây bắc xa xôi của Việt nam nơi những hoạt động của người Công giáo bị giới hạn bởi chính quyền cộng sản.
"Người Công giáo địa phương không được các giới chức chính quyền công nhận, vì vậy họ phải thực hiện chuyến thăm các nạn nhân thật nhanh và trong yên lặng, an ủi họ và tặng người dân ít tiền để họ có thể đối phó với tình hình,” Đức Giám mục Yến nói trước chuyến đi.
Đức Giám mục nói rằng các nạn nhân rất cần sự trợ giúp tài chính để sửa chữa nhà cửa, mua nhu yếu phẩm và hạt giống để tiếp tục các vụ mùa. Trẻ em trong làng cũng cần sách vở và quần áo cho năm học mới bắt đầu từ đầu tháng Chín.
Đức Giám mục Yến nói đoàn sẽ khảo sát tình hình mà người địa phương đang phải hứng chịu để lập kế hoạch giúp đỡ họ trong tương lai.
Cha Giu-se Nguyễn Trọng Dưỡng, trông coi huyện Mù Cang Chải, nói rằng nhà cửa, gia súc và mùa màng của người dân địa phương bị lũ cuốn trôi sạch. Huyện có số dân 50.000 người, 90 phần trăm là người làng sắc tộc H’mong.
Lũ lụt ở bốn tỉnh miền núi Điện Biên, Lai Châu, Sơn La và Yên Bái do các trận mưa lớn ngày 1-6 tháng Tám gây ra. Theo báo cáo của chính quyền các trận lũ cướp đi mạng sống 26 người và 15 người vẫn còn mất tích. Các trận lũ cũng tàn phá 230 căn nhà, 340 héc-ta mùa màng và 145 hệ thống tưới tiêu. (UCAN)

[Nguồn: radiovaticana]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 18/08/2017]


Thứ Năm, 17 tháng 8, 2017

Đức Hồng y Tauran nhấn mạnh ‘Tôn giáo thuộc về bản chất vốn có của con người’

Đức Hồng y Tauran nhấn mạnh ‘Tôn giáo thuộc về bản chất vốn có của con người’

L’Osservatore Romano đăng tải một phản ánh của Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn
11 tháng Tám, 2017
Đức Hồng y Tauran nhấn mạnh ‘Tôn giáo thuộc về bản chất vốn có của con người’
© PHOTO.VA - Osservatore Romano
“Tôn giáo thuộc về bản chất vốn có của con người,” là tiêu đề của một bài đăng trên phiên bản tiếng Ý của L’Osservatore Romano ngày 9 tháng Tám, 2017, trong đó đăng nhận định của Đức Hồng y người Pháp Jean-Louis Tauran, Chủ tịch của Hội  đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn.
Theo Hồng y, “loại trừ tôn giáo ra khỏi lý trí là tương tự như cắt bỏ con người được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa,” và ngài nói rằng “không thể có sự bất đồng giữa đức tin và lý trí,” làm vang lên những suy tư trong bài huấn từ của Đức Benedict XVI tại Regensburg tháng Chín, 2006.
“Chúng ta phải tự hào về niềm tin của chúng ta, vì nó cho chúng ta một tương lai cho nhân loại,” Đức Hồng y Tauran giải thích, từ đó dẫn đưa vào sự đối thoại liên tôn, nó “luôn bắt đầu bằng việc tuyên xưng niềm tin riêng của mỗi người, tránh chủ nghĩa hổ lốn.” “Ki-tô giáo không phải là một tư tưởng nhưng là một sự thật: Thiên Chúa đã trở thành người phàm.” Sự đối thoại “trong sự thật” là để “thăng tiến một thế giới nơi có công bằng và hòa bình.”
Một thế giới bất ổn và bạo lực
Vị Hồng y người Bordeaux bắt đầu bằng câu “chúng ta đang sống trong một thế giới bạo lực làm chia rẽ và sát sinh. Một thế giới rất bất ổn: bất kỳ điều gì cũng có thể xảy ra, chỉ cần nghĩ đến mối nguy hiểm của chủ nghĩa khủng bố đang hiện hữu. Thật khó mà nhìn thấy trước được sự phát triển của thế kỷ 21 sẽ là như thế nào. Nhiều nhà lãnh đạo chính trị đang tìm những ý tưởng và nhiều người trong gia đình nhân loại của chúng ta tự hỏi không biết có một phòng điều khiển hay không. Người ta đặt câu hỏi liệu các chính phủ sẽ thực hiện những biện pháp bảo đảm cho sự an ninh của xã hội và bảo vệ cho Tạo vật hay không.”
Vì thế, Hồng y Tauran đặt câu hỏi: “Trong thế giới này, người ta có thể tin vào Thiên Chúa không? Người ta có thể tin vào con người không?” Và ngài trả lời: “Chúng ta đang ở trong một sự mâu thuẫn hoàn toàn.”
Và Hồng y giải thích: “Thế giới công nghệ này, một thế giới chỉ nhìn thấy sức mạnh của những gì hữu dụng, cũng là thế giới trong đó những tính đa nguyên thuộc văn hóa và tôn giáo, tính tư hữu của tôn giáo, sự thiếu sót trong chuyển giao các giá trị và những mẫu gương đã làm cho ‘sự thánh thiêng’ và tính siêu việt vững chắc bị soi mói bởi tất cả mọi người.”
Ngài cũng lưu ý rằng “nếu việc thực hành tôn giáo, ít nhất là ở các xã hội Tây phương, đang bị giảm sút, rõ ràng là người ta ngày càng hiểu rõ hơn rằng người ta không thể hiểu được thế giới hôm nay nếu họ xem thường tôn giáo.”
Một tầm nhìn mở ra cho đối thoại
Đức Hồng y Tauran mô tả luận điểm của các Ki-tô hữu trong ngữ cảnh sau. “Người Ki-tô hữu thuộc về thế giới này, thế giới mà Thiên Chúa yêu thương, thế giới trong đó Thiên Chúa đã đặt họ vào và trong đó họ phải phát triển trọn vẹn. Trước hết họ nhận ra mình là những tạo vật và vì thế phải lệ thuộc vào một Đấng khác, một tạo vật được kêu gọi để nhìn thấy Thiên Chúa, nhìn thấy những tầm nhìn của con người và của thế giới để nó có thể dẫn đến sự gặp gỡ và đối thoại.”
Tuy nhiên, thế kỷ này cũng tạo ra những chú ý vào các câu hỏi về sự tồn tại thực sự. “Do sự bấp bênh gây những rắc rối cho cuộc sống của chúng ta – hãy nghĩ tới những cuộc chiến tranh hiện tại, lớn và nhỏ, hãy nghĩ đến sự ô nhiễm, đến sự khủng hoảng tài chính, sau sự sụp đổ của những hệ thống kinh tế lớn của thế kỷ trước –, con người của thế hệ này đang lại tự hỏi họ những câu hỏi về ý nghĩa của sự sống và cái chết. Nhiều người trẻ thấy quá lúng túng trước những sự vĩ đại mà sự chinh phục của khoa học kỳ diệu có thể tạo ra, nếu họ không được rèn luyện và định hướng tốt. Chúng ta nhận biết rằng nhân vị là loài thụ tạo duy nhất chất vấn và đặt câu hỏi về bản thân. Đó là phần siêu ngã — theo năng lực của trí óc suy tư về vận mệnh của riêng mình, về ý nghĩ của sự sống và cái chết — nó phân biệt giữa con người và những loài thực vật và thú vật.
Đó là lý do tại sao Đức Hồng y Tauran nói rằng “tôn giáo không mang tính quan trọng riêng tư của lịch sử”; “nó thuộc về bản chất vốn có của con người, một con người mà ba câu hỏi nền tảng của Emmanuel Kant luôn luôn có giá trị. “Tôi có thể biết được điều gì? Tôi có thể làm được gì? Tôi có thể đặt hy vọng vào điều gì?” Thật thú vị khi nhắc lại rằng Tuyên ngôn “Nostra Aetate” của Công đồng Vatican II về đối thoại liên tôn đã nhấn mạnh đến vấn đề này trong Lời Tựa: “Con người mong chờ câu trả lời từ các tôn giáo cho những điều bí ẩn được ẩn chứa trong tình trạng của con người, mà ngày hôm qua cũng như hôm nay, làm rối bời tâm hồn con người. Con người là gì? Ý nghĩa và sự kết thúc của cuộc sống là gì? Đâu là cái tốt và đâu là cái xấu? Nguồn gốc và sự kết thúc của đau khổ là gì? Con đường đến với sự hạnh phúc thật sự là gì? Với cái Chết? [. . .].”
Đức tin và lý trí
Quả thật, theo Hồng y Tauran, “loại trừ tôn giáo ra khỏi lý trí là tương tự như cắt bỏ con người được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa.” Đức tin là một thực tế đặt niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa, đặt niềm tin tuyệt đối vào một tín điều với sự kết nối chặt chẽ đến tâm linh và tâm hồn, điều đó tạo ra sự xác quyết. Ngược lại, lý trí là khả năng của trí óc suy nghĩ và xét đoán thực tại. Để đưa hai cụm từ này vào sự tương quan – lý trí và đức tin – có thể được hiểu như một thỏa thuận giữa chúng hoặc như một sự đối nghịch.”
Đức Hồng y nhắc chúng ta nhớ rằng kiến thức của con người có “hai nguồn gốc hợp lý”: lý trí và đức tin, nhưng chúng là “hai thực tại riêng biệt.” Bằng khả năng hiểu biết của mình, con người có thể hiểu về Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng (Hiến chế Dei Filius), trong khi đức tin cung cấp một cách hiểu biết khác, cụ thể là nó đón nhận một mặc khải. Chính Thiên Chúa Đấng tỏ lộ mình ra, và không phải là con người đi tìm Thiên Chúa. Điều đó cho thấy tại sao Ki-tô giáo không chỉ là một tôn giáo, nhưng là một sự mặc khải. Vì vậy đức tin là một nguồn tri thức, nhưng theo một cách khác. Dù nó phải được đặt lên trên lý trí, nhưng vẫn không thể có sự bất đồng giữa đức tin và lý trí vì chính cùng một Thiên Chúa mặc khải những mầu nhiệm của Người và ban cho đức tin, và Người cũng truyền bá ánh sáng của lý trí trong tâm linh con người.”
Đức Hồng y Tauran bác bỏ khẳng định đặt đức tin và lý trí vào sự đối nghịch. “Chúng ta nói rằng đức tin, đồng thời là một sự gặp gỡ và một thông điệp, gặp gỡ con người mà theo tính tự nhiên “hướng về Thiên Chúa.” Tuy nhiên, cần phải tránh hai thái cực: đầu tiên là tín ngưỡng luận, thể hiện tính đặc trưng của một tôn giáo được đặt trên những cảm xúc; thứ hai là chủ nghĩa duy lý, khẳng định rằng chỉ những thực tại có lý và có thể chứng minh bằng khoa học là đáng tin.”
Sự tự do của con người
“Chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa không phải là kết quả của một phương trình, vì nếu như vậy chúng ta bị ép buộc phải tin, và Người không phải là sự phi lý trí: Người là siêu lý trí và, tôi thậm chí có thể nói thêm nữa, là sự mạch lạc. Newman viết: “Một ngàn cách phản đối cũng không tạo nên sự hồ nghi.” Và Pascal nhấn mạnh: “Thiên Chúa cho con người đủ ánh sáng để đặt niềm tin vào Ngài và đủ bóng tối để không bị ép buộc phải tin. Nhìn thấy vấn đề thuộc sự tự do của con người trước Thiên Chúa,” Đức Hồng y Tauran tóm kết.
Từ đó ngài phân tích về sự thờ ơ do một thế giới bị thống trị bởi công nghệ. “Thế giới công nghệ mà chúng ta đang sống đã làm con người thờ ơ với chiều kích tâm linh. Con người cảm thấy có quyền lực, và họ thậm chí tìm cách để tự tạo bản thân. Tính hiệu quả và lợi nhuận đã thay thế sự tìm kiếm chân lý. Bị tách rời ra khỏi Ki-tô giáo, khoa học trở nên một món quà chết người vì nó có thể bị tận dụng cho những việc không đúng với sự phục vụ chính đáng cho nhân loại.”
Một tương lai cho nhân loại
“Chúng ta phải tự hào về niềm tin của mình, vì nó trao tặng một tương lai cho nhân loại. Chúng ta, người Ki-tô hữu, chúng ta đã được yêu và được tha thứ và chúng ta không cất giữ riêng cho mình ánh sáng đã soi rọi cho chúng ta. Chúng ta có bổn phận phải đem nó ra cho tất cả mọi người, và đặc biệt, cho những người sống không có niềm hy vọng. Vì vậy, chúng ta phải được chuẩn bị về tinh thần và đó là một vấn đề cấp bách thứ hai mà tôi nhìn thấy; có thể đưa ra một lý lẽ cho niềm tin của chúng ta. Sau điều cấp bách thứ nhất, đó là: tìm thấy niềm tự hào được làm người Ki-tô hữu, để đón nhận tính cao cả của sự huyền nhiệm,” Hồng y nhấn mạnh.
Chính trên khuôn khổ này mà Đức Hồng y Tauran xây dựng sự đối thoại liên tôn, đó là sứ vụ trọng tâm của Giáo hội. “Trong các xã hội đa nguyên mà chúng ta đang sống, sự đối thoại liên tôn chính nó trở nên vô cùng cần thiết. Nó luôn bắt đầu bằng việc tuyên xưng niềm tin riêng của một người, tránh tất cả thuyết hổ lốn. Nó hàm ý rằng chúng ta đang có trong tay một văn hóa tôn giáo cho phép chúng ta đối thoại trong sự thật. Chúng ta phải vượt qua bài giáo lý của thời trẻ thơ. Khi chúng ta nói chuyện với những nhà lãnh đạo có sự chuẩn bị rất kỹ và học thức cao của các xã hội, thật ngạc nhiên khi tìm thấy rằng ở một mức độ nào đó họ chẳng biết gì về quan điểm của tôn giáo và thường có một cái nhìn về đức tin còn rất ấu trĩ.”
Nền tảng của văn hóa
Đức Hồng y Tauran phân tích một nhu cầu cấp bách thứ ba: “Sống tinh thần hiệp nhất Giáo hội,” và ngài giải thích: “Những vụ bê bối, sự bội tín của các Ki-tô hữu không bao giờ có thể che giấu được sức mạnh của đức ái. Chỉ cần nghĩ đến công cuộc đáng thán phục được thực hiện bởi các nữ tu trong các quốc gia ở Thế giới thứ ba. Bây giờ không phải là thời gian để than van, nhưng để dấn thân vào sứ vụ. Chúng ta không được áp đặt nhưng là dâng lên Thiên Chúa là Đấng chúng ta đặt trọn niềm tin, Đấng thưởng công bội hậu cho chúng ta với hai món quà tuyệt vời: trí khôn để hiểu và một trái tim để yêu. Chúng ta không được nghĩ rằng Thiên Chúa không còn quan tâm đến con người hôm nay. Người ta không thể né tránh Đức Giê-su Ki-tô. Người ta gặp gỡ Đức Ki-ô nhờ Giáo hội. Việc đi tìm Thiên Chúa và sự sẵn sàng lắng nghe Người hôm nay vẫn là nền tảng của một nền văn hóa thực sự và vững chắc.”
Cuối cùng, Hồng y Tauran quay lại nói về tương lai của nhân loại, ngài đặt câu hỏi: “Sự đóng góp của chúng ta sẽ như thế nào cho thế giới ngày mai? Liệu chúng ta sẽ trở thành những người khơi nguồn cảm hứng hay chỉ đơn thuần là những người phụ thêm vào?” “Thật khó có câu trả lời,” ngài nói, trước khi bảy tỏ sự vững tin của ngài rằng: “Ki-tô giáo, chưa bao giờ mang tính phổ quát như hôm nay, sẽ có thể giúp cho sự toàn cầu hóa có ích lợi – mà tự bản thân nó là một điều rất lạc quan — qua những từ ngữ và những sáng kiến ban đầu về tính mới lạ và sự phi thường. Ki-tô giáo không phải là một tư tưởng nhưng là một sự thật. Thiên Chúa đã thành người phàm. Giáo hội sẽ tiếp tục làm cho con người “bị xao lãng” của thế kỷ này phải suy tư về bản thân họ, về sứ mạng của họ, về tính cần thiết để thăng tiến một thế giới là nơi cư ngụ của công bằng và hòa bình. Chúng ta có một vai trò để góp phần. Đặc biệt tôi đang nghĩ đến những bạn trẻ, những người rất thường khi là “người thừa kế nhưng lại không có quyền thừa hưởng” và là “những người xây dựng nhưng không có mẫu hình.” Chúng tôi, những người Ki-tô hữu, sẽ làm điều đó, cùng với Giáo hội và trong Giáo hội.”

[Nguồn: zenit]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 12/08/2017]


Lưu Trữ Blog

Tìm kiếm Blog này